Béo phì ở trẻ – Những biến chứng nguy hiểm & cách khắc phục hiệu quả

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,… là nguyên nhân hàng đầu.

Và chúng sẽ còn bị hệ lụy sau này, chẳng hạn như có nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch, đái tháo đường type 2, rối loạn nội tiết, rối loạn giấc ngủ và cơn ngừng thở ở trẻ em.

Hiện nay, thừa cân béo phì đang là vấn đề thách thức trên toàn cầu.

  • Tại Việt Nam, năm 1996 tỷ lệ trẻ em thừa cân béo phì tại Hà Nội và TP.HCM chỉ là 12%.
  • Sau 13 năm, (2009), tỷ lệ này là 43%.
  • Kết quả điều tra năm 2014 – 2015 của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, tỷ lệ trẻ béo phì ở TP.HCM trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội khoảng 41%.

Qua những số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ nhỏ đang dần tăng lên, đặc biệt là ở những thành phố lớn. Bệnh béo phì ở trẻ em rất nguy hiểm. Trẻ em thừa cân sẽ có nhiều nguy cơ trở thành người lớn béo phì. Do đó, phòng thừa cân béo phì từ độ tuổi sơ sinh, mẫu giáo là rất cần thiết.

Vậy, bạn có biết nguyên nhân, dấu hiệu hay cách khắc phục vấn đề này chưa? Hãy theo dõi, bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về chúng và có cách phòng tránh nhé!

Nội dung chính

Cách chẩn đoán béo phì ở trẻ em như sau:

Có nhiều tiêu chuẩn đánh giá béo phì ở trẻ em, phổ biến là phương pháp đánh giá z-score của chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới.

BMI = Cân nặng (kg)/ Chiều cao (m) x Chiều cao (m)

Công thức trên được áp dụng khi trẻ từ 2 tuổi trở lên

Trẻ 2-5 tuổi: thừa cân khi z-score BMI ≥ 2SD và béo phì khi ≥ 3SD

Trẻ 5-18 tuổi: thừa cân khi z-score BMI ≥ 1SD và béo phì khi ≥ 2SD

Nguyên nhân nào gây bệnh béo phì ở trẻ em?

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Béo phì có rất nhiều nguyên nhân khác nhau

Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng phổ biến nhất để gây ra bệnh béo phì ở trẻ em gồm có:

  • Yếu tố di truyền
  • Thiếu hoạt động thể chất
  • Thói quen ăn uống không lành mạnh

Ngoài ra, một số trẻ em bị béo phì vì các lý do trên kết hợp với nhau. Rất hiếm các trường hợp gây ra bởi tình trạng bệnh lý như vấn đề nội tiết. Để biết được trẻ béo phì do mắc bệnh lý hay không, bác sĩ thường yêu cầu trẻ thực hiện một số xét nghiệm máu.

Ngày nay, cùng với lối sống hiện đại, trẻ em dành nhiều thời gian với các hoạt động vui chơi ít vận động ví dụ như xem tivi, chơi trò chơi điện tử. Điều này càng làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì ở trẻ nhỏ.

Và các nguyên nhân khác về bệnh béo phì, như sau:

Béo phì nguyên phát:

Do mất cân bằng năng lượng:

  • Tăng lượng thu vào nhiều hơn nhu cầu của cơ thể hoặc/và giảm lượng tiêu hao trong thời gian dài làm tăng tích tụ mỡ trong cơ thể đặc biệt là ở bụng, mông, đùi và vai.
  • Dạng béo phì đơn thuần thường gặp ở những trẻ béo phì háu ăn, ít hoạt động và giảm chuyển hoá thân nhiệt. Trẻ béo phì thường cao hơn ở lứa tuổi trước dậy thì, nhưng lâu dài trẻ ngưng tăng trưởng sớm và có chiều cao trung bình thấp ở tuổi trưởng thành.

Béo phì thứ phát:

Để hiểu rõ hơn, ta cùng tham khảo qua các nguyên nhân dưới đây nhé!

Béo phì do suy giáp trạng:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Béo phì thứ phát thường gặp trong các bệnh lý nội tiết, bệnh lý di truyền, do dùng thuốc,… và có thể xảy ra ở bất kì lứa tuổi nào.
  • Béo toàn thân, lùn, da khô và thiểu năng trí tuệ.
  • Tăng cân có thể báo hiệu lượng hormone tuyến giáp thấp, một tình trạng được gọi là suy giáp. Khoảng một nửa số người suy giáp bị tăng cân tuy nhiên, một số phụ nữ có thể tăng nhiều hơn, đặc biệt nếu tình trạng suy giáp nặng.

Béo do cường năng tuyến thượng thận (U nam hoá vỏ tượng thận):

  • Béo bụng, da đỏ có vết rạn, nhiều trứng cá, huyết áp cao.
  • Là một hội chứng trong đó androgens thượng thận được sản xuất quá mức gây ra hiện tượng nam hóa. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và được khẳng định bởi nồng độ androgen tăng cao có và không bị sự ức chế bởi dexamethasone.

Béo phì do thiểu năng sinh dục:

  • Thường gặp trong 1 số hội chứng: Prader-Willi béo bụng, lùn, thiểu năng trí tuệ và hay gặp tinh hoàn ẩn. Lorence Moon Biel béo đều toàn thân, đái nhạt, thừa ngón và có tật về mắt

Béo phì do các bệnh về não:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Béo phì do các bệnh về não cực kỳ nguy hiểm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sau này.
  • Thường gặp do các tổn thương vùng dưới đồi, sau di chứng viêm não.
  • Béo thường có kèm theo thiểu năng trí tuệ hoặc có triệu chứng thần kinh khu trú.

Béo phì do dùng thuốc:

  • Uống Corticoid kéo dài trong điều trị bệnh hen, bệnh khớp, hội chứng thận hư hoặc vô tình uống thuốc đông y có trộn lẫn corticoid để điều trị chàm, dị ứng và hen.
  • Đặc điểm béo của hội chứng Cushing, béo bụng là chủ yếu và không tìm thấy nguyên nhân trừ khai thác bệnh sử có sử dụng thuốc corticoid.

Và các yếu tố từ bên ngoài làm tăng nguy cơ béo phì:

Tiền sử gia đình:

⇔ Bố hoặc mẹ bị béo phì: 80% trẻ béo phì nặng có một hoặc cả hai bố mẹ cùng béo phì.

⇔ Cân nặng lúc sinh: Trẻ có cân nặng lúc sinh > 4 kg có nguy cơ béo phì cao hơn trẻ có cân nặng lúc sinh bình thường.

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Trẻ béo phì đôi lúc cũng do di truyền từ người trong gia đình

Thực phẩm giàu năng lượng:

⇔ Thức ăn nhiều chất béo (mỡ, da, phủ tạng, thức ăn chiên xào, quay, thức ăn nhanh), thức ăn thức uống ngọt (chè, bánh kẹo ngọt, nước có đường, trái cây quá ngọt,…).

⇔ Đối với trẻ em ngày nay, việc nạp các loại thức ăn nhanh, nước ngọt có ga, các loại bánh ngọt,… nhưng lại không vận động, lười tập thể dục,… đó chính là nguyên nhân làm trẻ ngày càng béo phì và mắc các bệnh lý khác.

Thiểu năng trí tuệ:

⇔ Có bản năng kiểm soát thói quen ăn uống, nhận biết cảm giác no kém nên dễ dẫn đến ăn quá mức và ăn không biết no. Ngoài ra, khả năng giao tiếp xã hội bị hạn chế trẻ ít có cơ hội chơi đùa, vận động nên thường tìm đến ăn để tự tiêu khiển cho bản thân.

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Béo phì làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển

Vận động thể lực ít:

⇔ Trẻ có lối sống tĩnh tại như ít vận động thể lực, dành nhiều thời gian xem tivi, chơi game, đọc sách báo,.. thường có thói quen ăn vặt thường tiêu hao nặng lượng ít trong khi thu nạp năng lượng vượt mức nhu cầu, lâu dài dễ dẫn đến tình trạng béo phì.

Những biến chứng nguy hiểm của thừa cân béo phì ở trẻ em:

Không chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình, béo phì còn gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng khác cho trẻ, bao gồm:

Bệnh lý tim mạch :

Trẻ em bị béo phì có nguy cơ bị bệnh lý tim mạch ở tuổi trưởng thành như: tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành,.…

Tăng huyết áp:

Làm tăng nguy cơ bị bệnh Tăng huyết áp lên 12 lần so với bình thường.

  • Ở Mỹ và Châu Âu, khoảng 50% trẻ em bị béo phì bị tăng huyết áp.
  • Ở Việt Nam, theo các nghiên cứu cho thấy trẻ bị béo phì có tỷ lệ huyết áp tăng là 5-10 %.
Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Dù ở tuổi nào, thì bệnh tăng huyết áp đều có thể xảy ra.

Rối loạn mỡ máu:

  • Người béo phì thường có hàm lượng cholesterol trong máu cao, là nguyên nhân gây máu nhiễm mỡ. Hơn nữa mỡ thừa tích tụ chủ yếu ở bụng gây nhiều vấn đề sức khỏe.
  • Điển hình là tăng nồng độ LDL-cholesterol (cholesterol xấu) và triglyceride nhưng lại giảm nồng độ HDL-cholesterol (cholesterol tốt).

Xơ vữa động mạch:

  • Xuất hiện sớm ở trẻ bị béo phì do sự phát triển sớm các mảng xơ vữa trong động mạch và vẫn còn tồn tại dù sau này có giảm cân khi trưởng thành.
  • Các bằng chứng ngày càng cho thấy mối liên quan giữa béo phì ở trẻ em và bệnh tim mạch cũng như các biến chứng tim mạch cấp tính khi trưởng thành.
Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Xơ vữa động mạch do các biến chứng không tốt hình thành nên.

Bệnh lý nội tiết – chuyển hóa:

Bao gồm đề kháng insulin, đái tháo đường type 2, rối loạn mỡ máu, hội chứng đa nang buồng trứng, dậy thì sớm; cụ thể:

Đề kháng insulin, đái tháo đường type 2:

  • Rất nhiều phụ huynh lầm tưởng bệnh đái tháo đường týp 2 chỉ xảy ra ở người lớn nhưng tình trạng đề kháng insulin, tiền đái tháo đường rất phổ biến ở thanh thiếu niên bị béo phì và là một yếu tố dự báo quan trọng của bệnh đái tháo đường type 2 khi trưởng thành.

Hội chứng chuyển hóa:

  • Là một thuật ngữ mô tả tập hợp các yếu tố nguy cơ chuyển hóa trên cùng một người bệnh, bao gồm béo phì trung tâm (béo bụng), tăng đường huyết, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp.
  • Hội chứng chuyển hoá làm tăng nguy cơ mắc rất nhiều bệnh như: gan nhiễm mỡ không do rượu, buồng trứng đa nang, bệnh tim mạch, đái tháo đường, một số loại ung thư.

Dậy thì sớm:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Những trẻ dậy thì trước 8 tuổi ở bé gái và trước 9 tuổi ở bé trai được coi là dậy thì sớm.
  • Gần đây, sự liên quan giữa béo phì và dậy thì sớm là chủ đề được giới y khoa và các bậc phụ huynh quan tâm rất nhiều.
  • Trong đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những trẻ thừa cân béo phì thường có nhiều khả năng bị dậy thì sớm và ngược lại ở những trẻ thiếu cân thì các em lại dễ bị dậy thì muộn.

Cường Androgen:

  • Bé gái vị thành niên bị béo phì có nguy cơ bị cường Androgen và hội chứng buồng trứng đa nang. Hội chứng buồng trứng đa nang gồm các bất thường về kinh nguyệt, mụn trứng cá, rậm lông, gai đen da và viêm da tiết bã, nguy cơ giảm khả năng sinh sản ở phụ nữ trưởng thành.

Bệnh lý hô hấp:

– Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn: Tỷ lệ mắc chứng ngưng thở khi ngủ tăng rõ rệt ở trẻ em và thanh thiếu niên bị béo phì.

– Hội chứng giảm thông khí do béo phì: Rối loạn này hiếm gặp nhưng đe dọa tính mạng và cần chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bệnh lý tiêu hóa:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Vấn đề về bệnh lý tiêu hóa làm ảnh hưởng không tốt trong quá trình trẻ phát triển

– Gan nhiễm mỡ (không do rượu): Tỷ lệ bị gan nhiễm mỡ lên đến 34% ở trẻ em bị béo phì.

– Sỏi đường mật: Một nghiên cứu ở Mỹ đã báo cáo nguy cơ sỏi mật ở những bé gái bị béo phì nặng cao gấp 7 lần so với các bé gái có cân nặng bình thường.

Tăng áp lực nội sọ vô căn:

– Tăng áp lực nội sọ vô căn hay còn gọi là hội chứng “giả u não”, nguy cơ xuất hiện ở những trẻ bị béo phì, gồm biểu hiện đau đầu, buồn nôn, nôn, đau mắt, có thể gây suy giảm thị lực nghiêm trọng hoặc mù lòa. Vì vậy, giảm cân là một yếu tố quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân béo phì và tăng áp lực nội sọ vô căn.

Các ảnh hưởng về tâm lý:

– Béo phì ở trẻ em có thể dẫn đến những hậu quả tâm lý xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Trẻ thừa cân và béo phì dễ bị phân biệt đối xử bởi các bạn đồng trang lứa. Bên cạnh đó, thừa cân béo phì có thể khiến trẻ bị chứng rối loạn ăn uống sau này, khiến trẻ ăn uống không lành mạnh.

Bệnh lý cơ xương:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Bao gồm chân vòng kiềng (bệnh Blount), trượt đầu trên xương đùi.

– Ngoài ra, trẻ em béo phì có tỷ lệ gãy xương tăng cao, đau khớp thần kinh, đau cơ xương khớp (ví dụ: lưng, chân, đầu gối, mắt cá chân và bàn chân), khả năng di chuyển bị giảm, và dị tật chi dưới.

– Bất thường về da: gai đen da, rạn da…

– Gai đen da: Là một bất thường da phổ biến ở những người bị béo phì và có liên quan đến đề kháng insulin, là biểu hiện của nguy cơ bệnh đái tháo đường.

Hậu quả sẽ như thế nào nếu trẻ béo phì?

Bệnh béo phì ở trẻ em trước tiên sẽ khiến cho con nặng nề, phản xạ kém, dễ bị tai nạn. Khi tăng cân quá nhanh, trẻ sẽ phải đối mặt với những vấn đề về sức khỏe như rạn da, biến dạng xương chân, khó thở hay có những cơn ngừng thở lúc ngủ làm giảm chất lượng giấc ngủ.

Ảnh hưởng tâm lý xã hội:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Khi bị béo phì, trẻ thường bị soi mói và châm chọc nên tâm lý dễ bị ảnh hưởng
  • Bệnh béo phì ở trẻ em thường kéo dài cho đến hết thời gian thiếu niên, ảnh hưởng xấu tới tâm lý xã hội của con, từ đó giảm thành tích trong học tập và thường không khỏe mạnh. Dễ mắc các bệnh tim mạch, máu mỡ,… gây nguy hiểm cao.

Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch:

  • Bệnh béo phì ở trẻ em thường gây tăng huyết áp, kháng insulin và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan tới tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng. Những rối loạn lipid máu, huyết áp và insulin ở trẻ em sẽ kéo dài đến thời kỳ thanh niên.

Biến chứng gan:

  • Bệnh gây ra các biến chứng gan, đặc biệt đặc tính nhiễm mỡ gan và triệu chứng tăng men gan (transaminase huyết thanh). Các bất thường men gan cũng có thể liên quan với bệnh sỏi mật, nhưng bệnh này thường hiếm gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên.

Các biến chứng về giải phẫu, xương khớp:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Các biến chứng về giải phẫu, xương khớp,… ảnh hưởng đến cuộc sống sau này
  • Bệnh gây ra biến chứng về mặt giải phẫu. Nghiêm trọng là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), dễ bị bong gân mắt cá chân.

Các biến chứng khác:

  • Bệnh cũng gây nghẽn thở khi ngủ và bệnh giả u não. Nghẽn thở khi ngủ có thể gây chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong. Bệnh giả u não là một bệnh hiếm gặp liên quan đến tăng áp suất trong sọ não, đòi hỏi cần phải đi khám ngay.

Nguyên tắc điều trị béo phì ở trẻ bạn cần biết:

Béo phì có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ nhưng các bậc cha mẹ đừng quá lo lắng, hãy nhớ béo phì là bệnh có thể phòng ngừa và điều trị được.

Chế độ ăn uống:

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Chế độ ăn uống ở trẻ cần được cải thiện và loại bỏ các thói quen xấu
  1. Tuyệt đối không nhịn ăn, giảm cung cấp năng lượng bằng cách cho ăn độn, hoặc dùng thức ăn thay thế.
  2. Cung cấp đủ calci, vitamin, khoáng chất cho phát triển bình thường của cơ thể.
  3. Hạn chế thức ăn giàu năng lượng rỗng, đồ ăn vặt giàu đường, béo (kem, váng sữa, snack, thức ăn chiên rán, thức ăn nhanh, bánh ngọt, kẹo …).
  4. Hạn chế nước ngọt, nước có gas. Thay bằng nước lọc, nước uống thông thường, sữa tách béo 1 phần (1% béo) hoặc sữa không béo.
  5. Giảm kích thước dụng cụ đựng thức ăn: thay tô bằng chén, dĩa nhỏ, ly … (có kích thước tương đương lòng bàn tay trẻ).
  6. Khuyến khích ăn ngũ cốc nguyên cám, nguyên hạt thay cho tinh bột đã chế biến, nghiền, hầm, …
  7. Thay đổi thói quen ăn uống: Uống nhiều nước, ăn canh hoặc rau trước bữa ăn. Ăn nhiều chất xơ (rau, trái cây ít ngọt ….).
  8. Ăn nhiều vào buổi sáng, giảm vào buổi tối.
  9. Ăn chậm, nhai kỹ.
  10. Thay đổi thói quen sinh hoạt, tập các thói quen lành mạnh: vận động thường xuyên, giảm ngồi một chỗ, ngủ đủ giấc.

Chế độ luyện tập:

– Loại hình: đi bộ nhanh, chạy bộ, thể thao vừa sức (đạp xe, bơi lội, cầu lông, bóng rổ), … thể dục nhịp điệu cường độ trung bình

– Cường độ năng lượng tiêu hao: vận động cường độ nhẹ 90 phút, cường độ trung bình 60 phút

– Tần suất mỗi ngày hoặc >3 – 4 lần/tuần

– Thời gian: > 15 – 30 phút/lần, >60 phút/ngày

Điều trị bằng thuốc:

– Thường trẻ béo phì ăn uống thiên lệch, mất cân đối sẽ được xem xét bổ sung chất đạm, vitamin, khoáng chất, omega3, chất xơ,… tùy trường hợp. Ngoài ra, điều trị bằng thuốc còn áp dụng để điều trị nguyên nhân/ biến chứng của béo phì.

Phòng ngừa béo phì bằng cách nào?

Béo phì ở trẻ hiện nay đang bị báo động với sự gia tăng ngày càng cao, vì thói quen ăn uống, vận động không đồng đều, lối sống phụ thuộc vào các thiết bị thông minh nhiều hơn việc tiếp xúc thiên nhiên,... là nguyên nhân hàng đầu.
Phòng ngừa béo phì bằng cách vận động thường xuyên, không ăn các thức ăn nhanh,…

Nếu em bé của mình đang có cân nặng, chiều cao phù hợp theo tuổi thì hãy tiếp tục để bé có sức khỏe tốt nhất.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh – Thông Điệp “5 Đến 0, GO” (Mỹ):

  • Ăn 5 cữ trái cây & rau mỗi ngày
  • Cho và nhận 4 lời khen mỗi ngày
  • Uống 3 cữ sữa mỗi ngày
  • Không quá 2 giờ xem TV, máy tính mỗi ngày
  •  Ít nhất 1 giờ thể dục mỗi ngày

Không bao giờ uống nước ngọt có đường

==> Hãy khỏe mạnh, trong và ngoài.

Chọn thức ăn theo màu:

Xanh Vàng Đỏ
Tính chất Năng lượng thấp, xơ nhiều, béo ít, dinh dưỡng cao Dưỡng chất cao, nhưng năng lượng và béo nhiều hơn Nhiều năng lượng, đường, béo
Loại thức ăn Trái cây, rau Thịt nạc, sữa, tinh bột, hạt ngũ cốc Thịt có mỡ, đường, thức ăn khô
Số lượng Không giới hạn Giới hạn Tránh, ít thường xuyên

Cuộc khủng hoảng về sức khỏe này đòi hỏi sự quan tâm lớn hơn từ gia đình, người thân. Tuy nhiên béo phì gần như có thể điều trị và phòng ngừa được nhờ thay đổi lối sống lành mạnh trong chế độ ăn, chế độ vận động.

Tham khảo từ các nguồn thông tin khác nhau.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.